Chương
9: Chén trà trong sương sớm
Trời rét như cắt. Không kể tiểu hàn, không kể cả đến đại
hàn, buổi sớm mùa đông nào, cụ Ấm cũng dậy từ lúccòn tối đất. Từ trên bàn thờ đức
Thánh Quan, cụ nhắc cây đèn để xuống. Ðược khêu hai tim bấc nữa, cây đèn dầu sở
phô thêm màu xanh lá mạ phủ trên chất sứ Bát Tràng.
La liệt trên chiếu cói cạp điều đã sờn cạnh,cụ ấm đã
bày lên đấy khay trà, ống nhổ, ấm đồng và hỏa lò đất. Cái điếu bát vẽ Mai Hạc
kêu vang lên một hồi rất dòn, rất đều. Khói thuốc lào đặc sánh lại bao chùm lấy
ánh sáng yếu ớt của một ngọn đèn dầu. Rồi làn khói loãng dần biến ra màu nhờ nhờ
như làn hơi nước sủi. Sau màn khói, ẩn hiện một ông già chống nạnh bên gối xếp,
cặp mắt lim dim như một nhà sư nhập định. Vẻ nghiêm trang lặng thinh của ông
già muốn làm ngừng cả áng khói trắng hiếu động đang trôi trong không khí gian
nhà gạch. Ba gian nhà, chỉ có một người thức.
Trong cảnh trời đất lờ mờ chưa đủ phân rõphần đêm và
phần ngày, ông cụ Äm có cả phong thái một triết nhân ngồi rình bước đi của thời
gian.
Ðêm đông dài không cùng. Nó mênh mông và tự hết rất chậm
chạp.
Gió bấc thổi qua những kẽ cánh cửa bức bàn đã gửi vào
nơi yên lăng này mươi lăm tiếng gà không nhẫn nhục được với tối tăm. Từ ngoài
phía ngõ râm bụt lượn sát nhà gạch, dội vào những tiếng bước chân người nặng nề.
Cuộc đời hồi tỉnh lại dần dần.
Cụ Äm phẩy phành phạch quạt mo theo một nhịp nhanh
chóng trước cửa hỏa lò. Hòn than tẩu lép bép nổ, nghe rất vui tai. Và làm vui
cho cả mắt nữa, tàn lửa không có trật tự, không bị bó buộc kia còn vẽ lên một
khoảng không gian những nét lửa ngang dọc, cong quèo ngoằng ngoèo. Những lúc có
cháu nhỏ ngồi với mình,cụ Äm thường hỏi xem chúng xem pháo hoa cải như thế có
thích không.
Những hòn than tẩu cháy đều, màu đỏ ửng, cónhững tia lửa
xanh lè vờn ở chung quanh. Không khí mỗi lúc giao độngcàng nâng cao thêm những
ngọn lửa xang nhấp nho. Hòn lửa rất ngon lành, trở nên một khối đỏ tươi và
trong suốt như thỏi vàng thổi chẩy.
Thỉnh thoảng, từ hòn than tự tiêu diệt buột ra một tiếng
khô, rất khẽ và rất gọn. Thế rồi hòn than sống hết mộtđời khoảng chất. Bây giờ
hòn than chỉ còn là một điểm lửa ấm ấp trong một cái vỏ tro tàn dầy và trắng xốp.
Cụ Äm vuốt lại hai mái tóc trắng, cầm thanh đóm dài đảo lộn tàn than trong hỏa
lò, thăm hỏi cái hấp hối của lũ vô tri vô giác. Cụ Äm bỏ thêm một vài hòn than
hoa nữa vào hỏa lò. Than hoa không nổ lép bép như than tầu; nhưng từ ruột ấm đồng
bị nung nấu đã lâu, có tiếng thở dài của khối nước sắp biến thể. Nước đã lên tiếng
để nhắc người ta nghĩ đến nó.
Cụ Äm cũng thở đánh phù một cái, như khi người ta được
gặp lại bạn cố nhân sau nhiều giây phú mong chờ.
Cụ khẽ nâng vuông vải tây điều phủ trên khay trà gỗ khắc
có chân quỳ. Nhẹ nhành, khoan thai, cụ Äm nhắc cả đĩa dầm, chén tống, chén quân
ra khỏi lòng khay. Ðến lúc dờ tới cái ấm con chuyên trà thì cụ kểnh càng hơn. Cụ
ngắm nghía mãi chiếc ấm màu đỏ da chu, bóng không một chút gợn. Dáng ấm làm
theo hình quả sung và khi luyện đất cho vào lò lửa, nguời thợ Tầu lấy dáng cho ấm
kia đã là một người thợ có hoa tay. Cụ Äm thử mãi da lòng tay mình vào mình cái
ấm độc ẩm, hình như cố tìm tòi một chút gợn trên đất nung để được sung sướng
hoàn toàn sau khi nhận thấy cái ấm độc ẩm kia là nhẵn nhụi quá.
Nước sôi già lắm rồi. Nhưng thói quen vẫn bắt cụ Äm
rót thử một chút nước xuống đất xem có thực là sôi không. Mở đầu cho công việc
vụn vặt trong mỗi ngày tàn còn lại, ông già đã sợ nhất cái ấm trà tầu pha hỏng
lúc sớm mai.
Từ trên bề cao cỗ sập, dòng nước sôi trút mạnh xuống nền
đất trị, tiếng kêu lộp bộp.
Trên chiếc hỏa lò để không, cụ đã đặt thêm một ấm đồng
cò bay khác. Những người uống trà dùng cách thức như cụ Äm bao giờ cũng có ít
ra là hai ấm đồng đun nước. ấm nước sôi nhắc ra khỏi lò than là đã có chiếc ấm
thứ hai đặt lên đấy rồi. Và hai ấm đồng đó cứ được mãi mãi thay phiên nhau đặt
lên lò than đỏ rực, vì bữa nước trà cứ kéo dài không hết hồi. Như thế lúc nào
người ta cũng có một thứ nước sôi đủ độ nóng để pha một ấm trà ngon.
Nhưng có mấy khi cụ Äm uống trà tầu một cách tàn nhẫn
như vậy. Riêng về phần cụ, chỉ hai chén con là đủ rồi. Nhưng hai chén đó đã được
cụ săn sóc đến nhiều quá.
Chưa bao giờ ông già này dám cẩu thả trong cái thú
chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, cụ Äm đã để vào đấy
bao nhiêu công phu. Những công phu đó đã trở nên lễ nghi, nếu trong ấm trà pha
ngon, người ta chịu nhận thấy một chút mùi thơ và một tị triết lý và tâm lý.
Cụ Äm sau mỗi lần gặp phải một ông khách tạp, uống trà
rất tục, cụ thường nói với vài bạn nhà nho:
- Có lẽ tôi phải mua ít chén có đĩa ở hiệuTây, để mỗi
khi có mấy thày làm việc bên Bảo Hộ tới thì đem ra mà chế nước pha sẵn trong
bình tích. Các cụ cứ suy cái lẽ một bộ đồ trà chỉ có đến bốn chén quân thì các
cụ đủ biết cái thú uống trà tầu không có thể ồn ào được. Lối giao du của cổ
nhân đạm bạc chứ không huyên náo như bây giờ. Chỉ có người tao nhã, cùng một
thanh khí, mới có thể cùng ngồi bên một ấm trà. Những lúc ấy, chủ nhân phải tự
tay mình chế nước, nhất nhất cái gì cũng làm lấy cả, không dám nhờ đến người
khác, sợ làm thế thì mất hết cả thành kính. Tôi còn nhớ hồi nhỏ, còn là học trò
quan Ðốc, tôi đã được cái vinh dự sớm dậy, sớm nào cũng như sớm nào, đứng hầu trà
cụ Ðốc, trước khi củ giảng bài và chấm cho anh em tập quyển. Nhiều người đã
ghen tị với tôi và kêu ca với cụ Ðốc xin để cắt lượt học trò hầu trà, cho anh
em ai nấy đều được chút vinh dự gần gũi thày và sớm chiều được gần cái đạo của
thày. Quan Ðốc mỉm cười: "Thày giã ơn các anh. Thày nói thì các anh đừng
giận: các anh không pha trà cho hợp ý thày được đâu. Ðể thời giờ ấy mà học. Anh
Ðam - (trước kia tôi là Ðởm, sau sợ phạm húy nên cụ Ðốc mới đổi tên đi cho) -
anh Ðam pha trà khéo thì thày để cho giữ việc hầu thày, chứ có phải thày yêu
anh Ðam hơn hay là ghét các anh hơn đâu". Bây giờ mỗi buổi trà sớ, ngồi uống
một mình, tôi cứ nhớ cái tiếng ngâm của quan Ðốc. Sớm nào dậy, cụ cũng ngâm một
vài bài thơ. Giọng thật rền, thật trong. Cụ hay ngâm mấy câu này:
Bán dạ tam bôi tửu.
Bình minh sổ chản trà.
Mỗi nhật ừ... ừ... đều được... y... như thử.
Lương y bất đảo gia.
Một buổi sớm, thấy rõ lòng thày là vui vẻ, tôi đã mạn
phép đọc để cụ Ðốc chữa cho bài diễn nôm:
Mai sớm một tuần trà.
Canh khuya dăm chén rượu.
Mỗi ngày mỗi được thế,
Thày thuốc xa nhà ta.
Cụ Ðốc tạm cho là được.
Sớm nay, cụ Äm cũng ngâm thơ. Cụ tin rằng ngâm thơ lúc
yên lặng, lúc mới tỉnh giấc là một cách vận động thần khí kỳ diệu nhất của một
người sống bằng cuộc đời tâm tưởng bên trong. Mỗi buổi sớm ngâm như thế là đủ
tiết hết ra ngoài những cái nặng nề trong thân thể và để đón lấy khí lành đầu
tiên của trời đất. Âu cũng là một quan niệm về vệ sinh của thời cũ. Và người xưa
uống trà là để giữ mình cho lành mạnh.
Thường hay vấn mình để sửa mình vào những giờ uống trà
tầu, cụ Äm thường nghĩ đến câu nghìn xưa của thày Tăng Tứ: "Ngô nhật tam tỉnh
ngô thân".
Trong nhà cụ Äm, người ta đã ồn ào thức dậy.Cụ Äm cũng
bắt đầu ho. Chừng như hồi nãy, cụ đã tự nén hơi thở không dám ho, sợ làm đục mất
cái phút bình lặng huyền bí của lúc đêm và ngày giao nhau.
Người con trưởng dón dén lại thỉnh an cha già và mon
men ngồi ghé vào thành chiếc sập cũ. Chàng đỡ lấy quạt,nhắc hỏa lò ra một chỗ rộng,
quạt mạnh cho hế tàn than.
- Thày uống xong rồi. Con uống thì pha mà uống.Trà còn
đợm hương lắm.
Câu nói này là thừa. Vì sớm nào hai cha con ông Äm chẳng
dậy sớm để uống trà, cha bao giờ cũng uống trước hai chén và người con cả uống
sau nhiều lắm đến ba chén là cùng. Sớm nay, cũng như lúc thỉnh thoảng của mọi
ngày, cụ Äm lại bắt người trưởng nam giở tập Cổ Văn ra bình lại cả bài
"Trà Ca" của Lư Ðồng. Giọng bình văn tốt quá. Ðiệu cổ phong trúc trắc
thế mà con cụ Äm lại còn ngâm gối hạc bắt đoạn cuối một câu trên xuống luôn đầu
câu dưới, hơi ngâm trong và dài. Trông hai tra con uống nước mà y như là một
đôi thày trò vào một giờ học ôn buổi sớm mai. Chuyện vãn mãi về trà tầu, ông cụ
Äm lại mang luông cả tập"Vũ Trung Tùy Bút", giảng những đoạn công phu
của tác giả - ông Quốc Tử Giám Tế Tửu Phạm Ðình Hổ - chiêm nghiệm và xưng tụng về
trà tầu. Rồi cụ Äm liền than tiếc đến cái mùa thu đã đi mất rồi, để sen hồ rách
hết tàn rũ hết lá.
- Cả ạ, thày cho nước pha trà không gì thơm lành bằng
cái thư nước đọng trong lá sen. Mỗi lá chỉ có ít thôi.Phải gạn vét ở nhiều lá mới
đủ uống một ấm. Hồi thày còn ít tuổi, mỗi lúc được quan Ðốc truyền cho đi thuyền
thúng vớt những giọt thủy ngân ấy ở lá sen mặt đầm, thày cho là kỳ thú nhất
trong đời một người học trò được thày học yêu như con.
Trong gia đình cụ Äm, hồi gần đây đã lập lại cái phong
tục uống trà. Có một hồi bần bách quá, cụ Äm đã cất hẳn bộ đồ trà vào tủ, tưởng
không bao giờ được bày nó ra hằng ngày nữa.
Nhưng trời kể cũng còn hậu đãi người hàn nho, thế nào
năm nay cụ Äm lại được mùa cả hai vụ.
- Này cả, con lên tỉnh mua trữ lấy ít trà Lý Tú Uyên.
Năm nay ta ướp thêm vài chục chai để dành. Thủy tiên nhà, năm nay gọt những một
lắp đấy. Thày mua chung với cụ Kép xóm dưới! Ðộ mai kia thì giò hoa tách hết
màng. Củ nào hoa kép thì đem ủ trà.
- Thưa thày, con tuởng trà cứ để nguyên hương của nó
mà uống. Con thấy ông ngoại nhà không bao giờ cho ướp trà mới, bất cứ là với
hoa thơm nào. Ông ngoại con bảo chỉ nên ướp, là lúc trà đã đi hương hoặc gần
phát du.
Trời rạng dần. Một chút nắng đào lóng lánh trong đám
cây đang rụng dần lá năm cũ, một chiếc lại một chiếc.
Ðạo mạo trong vành khăn nhiễu quấn dối, cụ Äm đã chống
gậy ra đi.
Cụ quay trở lại dặn người con trưởng đang hí hoáy lau
bộ khay trà:
- Thày vào trong cụ Ðiều để rồi cùng sang làng bên
thăm một con bệnh già. Con bệnh này, tốn nhiều sâm lắm. Ðến tối thày mới về, vì
thày phải sao tẩm thuốc sống ở bên ấy cho tiện./.
full-width
إرسال تعليق